Site banner

Chính sách hỗ trợ đào tạo trình độ sơ cấp, đào tạo dưới 3 tháng của Thủ tướng Chính phủ

Ngày 28 tháng 9 năm 2015, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 46/2015/QĐ-TTg Quy định chính sách hỗ trợ đào tạo trình độ sơ cấp, đào tạo dưới 3 tháng, Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2016.Về phạm vi điều chỉnh được quy định tại điều 1: Quyết định này quy định về chính sách hỗ trợ đào tạo trình độ sơ cấp, đào tạo dưới 3 tháng gồm mức hỗ trợ chi phí đào tạo, mức hỗ trợ tiền ăn, tiền đi lại và tổ chức thực hiện chính sách hỗ trợ đào tạo trình độ sơ cấp, đào tạo dưới 3 tháng; Về đối tượng áp dụng được quy định tại điều 2: Người học là phụ nữ, lao động nông thôn, người khuyết tật tham gia học các chương trình đào tạo trình độ sơ cấp, đào tạo dưới 3 tháng, trong đó ưu tiên người khuyết tật và các đối tượng là người thuộc diện được hưởng chính sách ưu đãi người có công với cách mạng, người dân tộc thiểu số, người thuộc diện hộ nghèo, cận nghèo, người thuộc hộ gia đình thu hồi đất nông nghiệp, đất kinh doanh, lao động nữ bị mất việc làm, ngư dân, các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan; Về nguyên tắc hỗ trợ được quy định tại điều 3: Người học đăng ký tham gia các chương trình đào tạo trình độ sơ cấp, đào tạo dưới 3 tháng được lựa chọn nghề học, cơ sở đào tạo, việc thực hiện chính sách hỗ trợ đào tạo đối với người học được thực hiện thông qua cơ sở đào tạo tổ chức khóa đào tạo trình độ sơ cấp, đào tạo dưới 3 tháng. Mỗi người chỉ được hỗ trợ đào tạo một lần theo chính sách quy định tại quyết định này, những người đã được hỗ trợ đào tạo theo các chương trình chính sách hiện hành khác của Nhà nước thì không được tiếp tục hỗ trợ chính sách theo quy định tại Quyết định này, riêng những người đã được hỗ trợ đào tạo nhưng bị mất việc làm do nguyên nhân khác quan thì Ủy ban nhân dân cấp xã xem xét, quyết định tiếp tục hỗ trợ đào tạo để chuyển đổi việc làm theo chính sách quy định tại Quyết định này, nhưng tối đa không quá 3 lần.

Về mức hỗ trợ chi phí đào tạo được quy định tại điều 4: người khuyết tật mức tối đa 6 triệu đồng/người/khóa học; người thuộc hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, hộ nghèo ở các xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn theo quy định của Thủ tướng Chính phủ, mức tối đa 4 triệu đồng/người/khóa học; người dân tộc thiểu số, người thuộc diện được hưởng chính sách ưu đãi người có công với cách mạng, người thuộc diện hộ nghèo, người thuộc hộ gia đình bị thu hồi đất nông nghiệp, đất kinh doanh, lao động nữ bị mất việc làm, ngư dân, mức tối đa 3 triệu đồng/người/khóa học; người thuộc diện hộ cận nghèo, mức tối đa 2,5 triệu đồng/người/khóa học; người là phụ nữ, lao động nông thôn không thuộc các đối tượng quy định tại các khoản 1,2,3,4 của điều này, mức hỗ trợ tối đa 2 triệu đồng/người/khóa học; riêng ngư dân học các nghề: vận hành tàu cá vỏ thép, tàu vỏ vật liệu mới, kỹ thuật khai thác, bảo quản sản phẩm công nghệ mới đối với tàu có tổng công suất máy chính từ 400CV trở lên được hỗ trợ 100% chi phí đào tạo và thực hiện theo quy định tại Nghị định của Chính phủ; trường hợp người học đồng thời thuộc các đối tượng nêu tại các khoản 1,2,3,4,5 và 6 của điều này chỉ được hưởng một mức hỗ trợ chi phí đào tạo cao nhất.

Mức chi phí đào tạo cho từng nghề và mức hỗ trợ cụ thể đối với từng đối tượng tham gia chương trình đào tạo trình độ sơ cấp, đào tạo dưới 3 tháng do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, thủ trưởng cơ quan ở trung ương được giao nhiệm vụ thực hiện chính sách hỗ trợ đào tạo trình độ sơ cấp, đào tạo dưới 3 tháng phê duyệt phù hợp với chương trình, thời gian đào tạo thực tế và đặc thù của từng địa phương; đối với những nghề có chi phí đào tạo thực tế lớn hơn mức hỗ trợ tối đa quy định tại điều này, các đia phương, cơ sở đào tạo chủ động xây dựng phương án huy động nguồn kinh phí bổ sung từ ngân sách địa phương, hỗ trợ của doanh nghiệp, đóng góp của người học và nguồn huy động, tài trợ hợp pháp để đảm bảo chi phí đào tạo. Ngoài các đối tượng quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5 của điều này, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tùy theo điều kiện, khả năng ngân sách địa phương, bố trí và huy động thêm các nguồn kinh phí hợp pháp khác để hỗ trợ thêm cho các đối tượng khác có nhu cầu học nghề.

Mức hỗ trợ tiền ăn, tiền đi lại được quy định tại điều 5: tiền ăn 30.000đ/người/ngày thực học; mức hỗ trợ tiền đi lại 200.000đ/người/khóa học nếu địa điểm đào tạo ở xa nơi cư trú từ 15km trở lên, riêng đối với người khuyết tật và người học cư trú ở xã, thôn, bản thuộc vùng khó khăn hoặc đặc biệt khó khăn theo quy định của Thủ tướng Chính phủ mức hỗ trợ tiền đi lại 300.000đ/người/khóa học nếu địa điểm đào tạo xa nơi cư trú từ 5 km trở lên. Ngoài những đối tượng và mức hỗ trợ quy định tại khoản 1 và 2 điều này, các Bộ, ngành, địa phương, cơ sở đào tạo tùy điều kiện và khả năng, huy động thêm các nguồn kinh phí khác để hỗ trợ thêm tiền ăn, tiền đi lại cho người học trong thời gian đào tạo./.

TD

Tin khác